Thể cấm chỉ – わけがない hay わけではない Sử dụng cấm chỉ trong tiếng Nhật

Thể cấm chỉ – Sử dụng cấm chỉ trong tiếng Nhật – わけがない hay わけではない

Hôm nay mình bàn đến một trong những điểm ngữ pháp chúng ta học ở ngữ pháp trình độ N3 đã học rồi. Có lẽ lý do là chúng ta đã học quá nhiều điểm ngữ pháp và hình thức của nó lại có ý nghĩa giống nhau. . わけがない và わけではない có hai ý nghĩa rất khác nhau nhưng đến khi làm trắc nghiệm, nếu không phân biệt rõ chúng ta lại thường nhầm..

1. わけがない (lẽ nào lại/làm sao …. được)
わけがない Có ý nghĩa khả năng mà sự việc xảy ra rất thấp. Nó được sử dụng khi người nói muốn phủ định một cách mạnh mẽ, quả quyết cho rằng không thể nào có chuyện như thế được, thế nên nó mang nặng cảm tính, tính cá nhân của người nói.

Vì vậy nó rất giông với cách dùng はずがない.
かれしはそんなことをいうわけがないよ!
Không lý nào mà bạn trai tôi lại nói một chuyện như thế!
あいつが犯人なわけがない。
Lẽ nào gã đó lại là tội phạm được chứ!

Lưu ý, khi dùng với danh từ hoặc tính từ -na thì nhớ bổ sung な nhé.
Trong văn nói hội thoại, đôi khi bạn sẽ nghe thấy người Nhật không nói わけがない mà nói わけない, đây thực ra cũng chỉ là một, trợ từ が bị lược bỏ cho ngắn ngọn hơn mà thôi.

Ví dụ:
A:今日、雨降るかな?
A:Hôm nay không biết trời có mưa không nhỉ?
B:降るわけないよ。こんなに晴れているんだから。
B:Làm sao mà mưa được. Trời quang thế này cơ mà.

Thế nhưng, cũng phải nói cho hết vì sẽ dẫn đến một hiểu lầm khác cho bạn. Khi giản lược わけがない thành わけない, thì わけない mà một tính từ -i trong tiếng nhật (訳無い) có nghĩa là “dễ dàng, đơn giản” (ý nghĩa này có phần khá trái ngược), nên bạn cần lưu ý tuỳ ngữ cảnh mà hiểu ý họ nói, mình ví dụ như:




→ Đây là ngữ pháp わけがない bị giản lược が
こんな難しい問題、中学生が解とるわけない。
Một bài toán khó thế này làm sao mà học sinh trung học có thể giải được.
→ Đây đơn thuần chỉ là tính từ -i わけない có ý nghĩa “dễ dàng”

こんな簡単な問題、中学生なら 解くのはわけないよ。

Một bài toán đơn giản thế này thì đến học sinh trung học cũng dễ dàng giải được.

2. わけではない (không phải là……./ không có nghĩa là……)
わけではない đưa ra một lời phản đối, phủ định một vấn đề gì đó mà thông thường rất nhiều người suy nghĩ như thế (kiểu như đi ngược lại với nhận định chung). Giả sử, bạn biết một nhà hàng lúc nào cũng đầy khách, như vậy nhận định chung là có thể thức ăn ở đó rất ngon, nhưng thực tế theo bạn nhận định nó không ngon như nhiều người nghĩ, khi đó bạn sẽ dùng わけではない và nói như sau:

このレストランはいつも客がいっぱいだが、おいしいわけではない。
Nhà hàng này lúc nào cũng đông khách nhưng không có nghĩa là thức ăn ngon.

Hoặc ở một khía cạnh ví dụ khác, trẻ con thường hay nghĩ cá không bao giờ ngủ vì chẳng bao giờ thấy nó nhắm mắt, bạn dạy nó bằng cách nói như sau:
さかなは、めがあいているが おきている わけではない。
Con cá đang mở mắt nhưng không có nghĩa là nó đang thức.
Bạn lưu ý, わけではない cũng có cách nói rút gọn trong hội thoại trở thành わけじゃない, では trở thành じゃ.

Ví dụ như:
A:お金に困こまっているの?
B:困っているわけじゃないけど、楽じゃない。毎日節約せつやくしているよ。
A:Đang thiếu tiền hở?
B:Không phải là đang thiếu tiền, nhưng mà không vui. Ngày nào cũng để dành mà.

Chia Sẻ Bài Viết Này !
  •  
  •  
  •  
  •  
  •   
  •  

 


-----------------------------------------

Like Page Để cập nhật những tài liệu mới nhất

 

 


Bình Luận

Bình Luận